Chăm sóc cây sầu riêng đòi hỏi quy trình bài bản từ lúc vươn đọt non, ra mầm hoa cho đến khi nuôi trái. Bài viết này cung cấp chi tiết các biện pháp phòng trừ nấm bệnh, tuyến trùng, côn trùng phá hoại và cách thức sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật qua từng giai đoạn cụ thể. Nhờ nắm vững kỹ thuật, nhà vườn sẽ bảo vệ vườn cây khỏe mạnh, tối ưu chi phí và đạt năng suất thu hoạch cao nhất.
Phục hồi và quản lý dịch hại sau thu hoạch
Giai đoạn sau thu hoạch, cây sầu riêng cạn kiệt dinh dưỡng nên cần được phục hồi nhanh chóng để vươn đọt, phát triển mạnh về thân lá và tái tạo bộ rễ.
Xử lý đất và nấm bệnh vùng rễ
Bước đầu tiên trong quy trình là tiến hành cắt tỉa cành tăm, cành khô và dọn dẹp vệ sinh vườn thật sạch sẽ. Ở thời điểm này, tuyến trùng và nấm Phytophthora lưu tồn trong đất rất dễ tấn công làm rễ cái thâm đen, thối vỏ, dẫn đến tình trạng cây còi cọc và thiếu sức sống.
Để phòng ngừa, nhà vườn tiến hành tưới gốc theo phuy 200 lít bằng các nhóm thuốc đặc trị. Bà con pha hỗn hợp gồm 1kg Nekko 69WP, 500g Cylen 500WP, 300g Maxsuran 80WP, 500g DP-Trust 19WG. Nhóm thuốc nước đi kèm bao gồm 330ml Flumo 500SC, 250ml Shield-fast 200SC, 450ml Haihamec 3.6EC và 450ml Afudan 20SC. Phối hợp thêm 1kg Carozate 72WP cùng 1kg Karoke 350WP để tưới phòng. Việc tưới phòng bệnh vùng rễ này chỉ áp dụng duy nhất 1 lần cho giai đoạn sau thu hoạch.
Đối với những cây đã có dấu hiệu nhiễm bệnh rành rọt trên thân, bà con cần cạo sạch lớp vỏ thối. Pha dung dịch sệt gồm 100g Maxsuran 80WP, 200g Carozate 72WP và 200g Cylen 500WP vào 1 lít nước. Hỗn hợp này dùng để quét lên vết thối 3 đến 4 lần, mỗi lần cách nhau 3 đến 4 ngày, đồng thời pha loãng thêm nước để tưới quanh gốc.
Sau khi dọn dẹp nấm bệnh, cây cần dinh dưỡng để tái tạo rễ. Nhà vườn trộn TS-Humic hoặc Humic USA với NPK đạm cao nhằm rải gốc. Nếu không trộn chung, có thể tưới gốc các dòng Humic này trước khi rải phân NPK khoảng 7 đến 10 ngày để kích thích rễ tơ phát triển.

Bảo vệ cơi đọt non
Khi cây bắt đầu nhú đọt non, rầy xanh, rầy phấn trắng và nhện đỏ lập tức nhắm đến. Tác hại do chúng gây ra làm cháy lá, khiến đọt non quăn queo và rụng lá hàng loạt.
Nhà vườn phun thuốc trị rầy, nhện đỏ phối hợp cùng phân bón lá 500g NPK 30-10-10 pha cho phuy 200 lít. Để phần thuốc dễ nhìn và dễ lựa chọn hơn, bà con chia làm hai nhóm. Nhóm trị bọ trĩ, rệp sáp và rầy dạng bột gồm Chessin 600WP (200-300g), Safrice 20WP (500-700g), Diệt rầy 277WP (500-700g), Tace 20SP (600-800g), Ledan 95SP (200-300g), Tvypymeda 350WP (400-500g) hoặc Khongray 54WP (500-700g). Nhóm dạng cốm và dạng lỏng gồm Nomida 700WG (500-700g), Nofara 35WG (600-800g), Atdiphen 20SC (200-300ml), Sieubup 200wp (700-900g).
Đối với nhện đỏ, bà con phun 1 đến 2 lần đầu cơi đọt bằng Bipimai 150EC dùng 450ml, Spiro 240SC dùng 240ml, Hacomai 57EC dùng 240ml, Nomite sạch nhện 180EC dùng 240ml. Hoặc thay thế bằng Nabazole 20SC (150ml), Misec 1.0EC (100ml), Binhtac 20EC (450ml), BP.Newone 500SC (240ml) pha cho phuy 200 lít.
Lần phun thứ 2 cách lần đầu tiên từ 7 đến 10 ngày với các sản phẩm tương tự. Cách lần thứ hai khoảng 7 đến 10 ngày, nhà vườn tiến hành phun lần thứ 3. Ở lần này, bà con phối hợp thuốc trị rầy với thuốc trị cháy lá do nấm Rhizoctonia solani gây thán thư bông, đốm mắt cua.
Nhóm thuốc nấm bệnh cháy lá bao gồm Amistic 250SC (500ml), Mitop one 390SC (48ml), Afenzole 325 SC (480ml), Mi stop 350SC (480ml), Miligo 450SC (240ml), Asmiltatop super 400SC (330ml), Pirastar 183SE (200ml). Nhóm thuốc bột dạng gói gồm Zipram 80WP (600g), Proram 500WP (600g), Kingcozeb 80WP (700g), Ridokin 58WP (700g), Chapaon 770WP (600g), Thalonil 75WP (1kg), Dr.Green (0,7kg), Nofacol 70WP (1kg). Phun pha cho phuy 200 lít, kết hợp tưới gốc sau khi dỡ màng phủ bằng TS-humic bột hoặc Humic USA khoảng 2 đến 3 lần, mỗi lần cách nhau 7 đến 10 ngày. Các cơi đọt sau, nhà vườn áp dụng lại y hệt quy trình này.
Tình trạng mọt đục cành, sâu đục thân, bệnh khô cành chỉ can thiệp phun lên cành và thân khi cây không mang bông, trái, tuyệt đối không phun lên lá. Thuốc đặc trị mọt đục cành có tác dụng xông hơi, lưu dẫn mạnh làm ung trứng bao gồm Afudan 20SC, Bisector 500EC, Thipro 550EC, Matady 400EC, Dragongold 585EC, Boing 450EC. Phối hợp thêm Nomida 700WG, Nofara 35WG, Khongray 54WP, Efferray plus 275WP, Thần công 25WP, Thần công gold 39WP, Ledan 95SP. Kèm theo đó là các thuốc trị nấm khô cành như Amicol 360EC, Dicozol 260SC, Flumo 500SC, Fotazeb 72WP và Carozate 72WP. Riêng với bệnh đốm rong trên lá do nấm tảo, dùng 600g Chapaon 77WP pha phuy 200 lít để làm sạch lá.

Kỹ thuật tạo mầm hoa hạn chế Cadimi
Thói quen bón lân dưới gốc thường khiến đất dễ nhiễm Cadimi. Do đó, bà con nên tăng cường dùng phân bón qua lá tinh khiết để thay thế, bảo vệ rễ cây.
Khi cơi đọt cuối xuất hiện 2 đến 3 cặp lá chuyển sang lụa, nhà vườn phun 1 kg GA plus 18 (MKP 0-52-34). Có thể luân phiên thay thế bằng 500g Vic 7-5-44-TE cộng 500g G.A PLUS 22 (Siêu lân 86), hoặc 500g G.A 41 (10-60-10), hoặc 500g Vic 10-55-10-TE pha phuy 200 lít. Lịch phun lặp lại 3 đến 4 lần, mỗi lần cách nhau 7 ngày.
Ở đợt phun tạo mầm cuối cùng, phối hợp các loại phân bón lá nêu trên với 1 lít Japavil 110SL cho phuy 200 lít. Xong xuôi, tiến hành đậy màng phủ, phun 2kg Atomin 15WP pha phuy 200 lít và siết nước gây khô hạn. Trước khi đậy màng phủ 15 đến 20 ngày, nhà vườn tưới xử lý tuyến trùng và nấm Phytophthora theo đúng liều lượng đã hướng dẫn ở phần phục hồi rễ.

Chăm sóc cây sầu riêng giai đoạn ra hoa
Thời điểm hoa nhú dài 1 cm, cây cần kích rễ và kích đọt non đồng loạt. Kỹ thuật này giúp cây vừa nuôi hoa, vừa nuôi thêm cơi đọt già kịp thời trước khi bước vào kỳ xổ nhụy. Bà con bón gốc phân TS-Humic hoặc Humic USA phối hợp NPK đạm cao. Lúc nhú đọt non, thực hiện lại quy trình phun thuốc trị rầy, nhện đỏ giống y hệt giai đoạn bảo vệ đọt non.
Trên bông rất dễ xuất hiện bệnh héo bông và thán thư bông. Khắc phục bằng cách dùng sản phẩm phòng cháy lá phun trực tiếp lên cả lá và bông từ 1 đến 2 lần, mỗi lần cách nhau 7 ngày để chặn nấm.
Để phòng trị sâu ăn bông, bọ trĩ, rệp sáp, bà con phun định kỳ 7 đến 10 ngày các loại thuốc như Dizuron 20WP (300g), Hama 250SC (100ml), Bạch tượng 64EC (200ml), Masterindo 150SC (120ml), Tenano 20SC (100ml), Matady 400EC (150ml), Ammeri 150EC (150ml), Indoxa gold 250SC (300ml), Chloxam 350SC (150ml) pha cho phuy 200 lít. Hoặc luân phiên với Chlorferran plus 350SC (150ml), Chlordelta 245SC (150ml), Alexferan 240SC (240ml), Notriplus 450SC (200ml), Rice NP 47SC (240ml), Sologold 360SC (150ml), Soloplus 360SC (150ml).
Sau khi ra bông được 40 ngày, tiến hành xử lý tuyến trùng và nấm Phytophthora thêm lần nữa. Trước lúc xổ nhụy 7 đến 10 ngày, nhằm hạn chế cây đi đọt non cạnh tranh dinh dưỡng làm rụng trái, bà con phun chặn đọt bằng GA plus 18 (MKP 0-52-34) hoặc các dòng Vic 7-5-44-TE, G.A 41 phối hợp Japavil 110SL. Phun 1 đến 2 lần, cách nhau 7 ngày, kèm theo thao tác tưới NPK 12-11-17-Te dưới gốc.
Nuôi dưỡng trái và phòng ngừa dịch hại
Khi đậu trái 10 đến 15 ngày, nếu gặp thời tiết mưa dầm, cây rất dễ vươn đọt gây rụng trái non. Nhà vườn tiếp tục phun chặn đọt bằng GA plus 18 hoặc lân cao kết hợp Japavil 110SL từ 1 đến 2 lần, cách nhau 7 ngày và tưới NPK 12-11-17-Te.
Trong lúc này, phun kết hợp thuốc đặc trị sâu đục trái và rệp sáp định kỳ 7 đến 10 ngày để giữ da trái đẹp. Khi đậu trái 50 ngày, tiến hành tưới thuốc phòng nấm xì mủ và tuyến trùng dưới phần gốc. Nấm bệnh xâm nhập lên vỏ sẽ gây thối gai diện rộng.
Từ ngày thứ 50 sau đậu trái, bà con phun lên vỏ định kỳ 15 đến 20 ngày một lần hỗn hợp ngừa nấm thối trái. Các loại thuốc bao gồm Maxsuran 80WP (300g), DP-Trust 19WG (500g), Flumo 500SC (330ml), Shield-fast 200SC (300ml), Mitop one 390SC (240ml), Afenzole 325 SC (240ml), Mi stop 350SC (240ml), Miligo 450SC (240ml) hoặc Asmiltatop super 400SC (250ml) pha phuy 200 lít.
Khi vườn đã có trái bị thối, bắt buộc tăng liều lượng thuốc lên như Maxsuran 80WP (400g), Flumo 500SC (500ml), Shield-fast 200SC (400ml), Mitop one 390SC (240ml), Afenzole 325 SC (240ml), Mi stop 350SC (240ml), Miligo 450SC (240ml), Asmiltatop super 400SC (250ml) pha phuy 200 lít. Phun 2 lần, mỗi lần cách nhau 5 đến 7 ngày để chặn đứng nấm bệnh.
Nuôi trái lớn, chống sượng và giữ xanh gai, bà con dùng 500ml Siêu lớn trái 20-20-20-TE cộng 500ml Canxi bo sữa cho phuy 200 lít. Khi trái đang lớn nhanh, phun bổ sung 500g Amino 6-30-30-Te định kỳ 7 đến 10 ngày một lần.
Đặc trị bệnh xì mủ và khô cành trên cây sầu riêng
Bệnh xì mủ thân và khô cành cơm mẻ ảnh hưởng trực tiếp đến đường ống dẫn nhựa của cây, khiến cây suy kiệt cực kỳ nhanh chóng.
Xử lý vết xì mủ thân
Nhà vườn đi thăm vườn vào sáng sớm, lúc nắng chưa lên để phát hiện các vết ướt do xì mủ trên thân.
Khi xác định vị trí, tiến hành cạo sạch lớp vỏ thối bên ngoài cho đến khi hết đường chỉ đen bên trong lớp gỗ. Pha hỗn hợp sệt gồm 100g Maxsuran 80WP, 300g Carozate 72WP, 100ml Shield-fast 200SC vào 0,5 đến 1 lít nước.
Dùng cọ quét dung dịch này lên vết bệnh 3 đến 4 lần, mỗi lần cách nhau 3 đến 4 ngày. Khi thấy bề mặt vết cạo khô nứt lại, mầm bệnh đã bị tiêu diệt thì dừng quét. Đồng thời lấy hỗn hợp thuốc trên pha loãng với 25 lít nước tưới quanh gốc 1 lần.

Khắc phục tình trạng khô cành cơm mẻ
Cây bị xì mủ khô, hay còn gọi là cơm mẻ, xuất hiện dày đặc bên dưới dạ cành khiến việc cạo quét tốn kém thời gian và khó thực hiện, nhà vườn chuyển sang biện pháp phun trực tiếp.
Sử dụng 1 đến 1,5kg Fortazeb 72WP, 480ml Amicol 360EC, 360ml Miligo 450SC, 330ml Flumo 500SC, 240ml Dicozol 260SC và 1kg Carazate 72WP pha cho phuy 200 lít. Phun ướt đều lên thân và cành 2 đến 3 lần, mỗi lần cách nhau 7 ngày. Thuốc thẩm thấu sẽ làm vết bệnh tự động khô lại mà không cần cạo quét thủ công.
Lời kết
Tuân thủ nghiêm ngặt quy trình quản lý dịch hại và bổ sung dinh dưỡng theo từng thời điểm giúp cây sầu riêng phát triển bền vững. Tùy thuộc vào thời kỳ ra đọt non, tạo mầm, xổ nhụy hay nuôi trái, nhà vườn cần chủ động linh hoạt các biện pháp phòng ngừa nấm bệnh và côn trùng. Việc pha chế đúng liều lượng, đúng thời gian chính là chìa khóa mang lại vụ mùa thành công, trái đạt chuẩn chất lượng và mang lại nguồn thu ổn định.
Công Ty Cổ Phần Nông Nghiệp Qatar Chemical
📞 Hotline tư vấn: 0919286997
✅ Thiết kế nhãn độc quyền – Tăng nhận diện thương hiệu
📦 Đa dạng sản phẩm, quy cách – Xuất thành phẩm nhanh chóng
🌾 Chất lượng – Uy tín – Giá cả cạnh tranh trên thị trường





